Flights

John F. Kennedy International Airport, 3/5

Cánh cửa khoang đã đóng lại sau lưng những người lữ hành vồn vã. Chiếc máy bay chầm chậm lăn bánh trên con đường băng dài tưởng chừng vô tận, mang theo hàng trăm hành khách sắp vượt nửa vòng trái dất. Ngoài cửa sổ, sông Đông êm đềm lướt qua như muốn thay nước Mĩ gửi lời tạm biệt. Tiếng các chị tiếp viên nhẹ nhàng, tiếng  lách cách của dây an toàn, tiếng lẹt rẹt của túi đựng chăn bị xé, tất cả  tạo nên một bầu không khí đặc trưng trước mỗi chuyến bay, thong thả mà bồn chồn, hào hứng mà luyến tiếc.

Chiếc máy bay giờ dừng lại, như một vận động viên chạy nước rút lấy đà trước giờ xuất phát. Mọi người cùng im lặng chờ đợi khoảnh khắc cất cánh. Đột nhiên, đôi động cơ gầm lên mạnh mẽ, đẩy máy bay đi nhanh dần, nhanh dần. Rồi “Vút”, mặt đất đã ở lại dưới chân. Thành phố không bao giờ ngủ dần thu mình, nhợt nhạt rồi biến mất. 36000 feet trên không, New York của những gì dịu êm, của cái nắm tay và chiếc ôm thật chặt, của nụ hôn lướt vội trên trán, giờ mất hút trong làn mấy trắng.

Thế là hết, năm thứ nhất đại học của mình. Bước đầu tiên của cuộc hành trình mới, bắt đầu và kết thúc đều trên những chuyến bay.

Không biết nghe từ ai và từ bao giờ, nhưng mình luôn nhớ một câu nói rằng lái máy bay thực ra không hề khó, vì hầu hết mọi khâu đều đã được tự động hóa hết rồi. Chỉ có ngoại lệ là hai khâu cất cánh và hạ cánh, đều phải phụ thuộc vào người phi công. Trừ những trường hợp thiên tai bất ngờ hay khủng bố, thì hầu hết các thảm họa hàng không đều xảy ra ở hai khâu này. Chắc vì thế mà mỗi khi cất cánh và hạ cánh trong lòng đều cảm thấy lo lo, không chỉ cho mỗi mình mà còn cho tất cả mọi người trên máy bay nữa. Cũng lạ, trong cái hộp sắt kín bưng này số phận của vài trăm con người không quen biết lại ràng buộc với nhau, bình an thì bình an cả, mà gặp chuyện chẳng lành thì cũng khó ai thoát.

Lo thì hơi lo đấy, nhưng dù sao phải công nhận rằng giây phút khi máy bay nhấc khỏi mặt đất và hạ từ bầu trời là hai thời khắc nhiều tâm tư nhất của mỗi chuyến bay. Bởi vì khi cất cánh cũng là lúc để lại mọi ưu tư suy nghĩ nơi miền đất cũ, mà đi lên tìm đến những chân trời mới và những trả nghiệm mới. Cũng có khi là rời chốn tạm thời để trở về miền thân thương, như với du học sinh mỗi khi hè về. Châu Á là nhà, Việt Nam là mẹ. Nhưng chốn tạm thời kia có thể còn biết bao điều níu kéo, để rồi khi hạ cánh lại phải nhớ nhung, mong ngóng ngày gặp lại. 

Incheon, Hàn Quốc. 8 tiếng nữa là về. 

C360_2015-05-03-12-46-39-458[1]

Thành hay bại, vui hay buồn, lúc nào cũng có em lẽo đẽo đi bên 🙂 

CWMUN, Grand Hyatt, United Nations, and other untold stories.

Thursday, March 19th: First day

The alarm rang so loud at 8 AM that I flung myself out of bed, and forgot for a moment that I was not in my room at Franklin & Marshall, but instead with my friend at New York University Polytechnic. Because the check-in for CWMUN staff wouldn’t start until 10 AM, I had enough time to take a quick shower, eat left-over food from the night before, then packing and dressing properly (Double Windsor-knotted dark blue lozenge tie, my favorite). At 9.30, I was already on the F subway line, which I had gotten so used to since the beginning of this week. There were two main differences though: first, I would stop at 42nd Street – Bryant Park, from then I would walk about 10 minutes to the Grand Hyatt next to the famous Grand Central Terminal; second, this time I would go alone.

When I got out of the subway and mingled into the stream of pedestrians on 6th Avenue – Avenue of the Americas, the weather was fortunately neither chilly nor windy. In fact, it was so nice that I decided to wander off a little bit, to the New York Public Library located in the Bryant Park. The two majestic marble lions, Patience and Fortitude, stood guarding at the entrance of the magnificent Beaux-Arts building, giving the library an air of nobility similar to the royal palaces I have visited in Eastern Europe. Despite not getting inside, I could definitely imagine the quiet and intellectual atmosphere behind those huge doors, contrary to the busting and crowded streets outside. 

001164_l

Turning left and crossing the 5th Avenue, I walked on the 42nd Street for 5 minutes, and then the glassy Grand Hyatt appeared in front of me. The hotel looked indeed grand and gorgeous, filled with important-looking people and Asian tourists (LOL). Yet, there was this huge scripture right at the entrance that I didn’t know who it represents, or what it symbolizes for. May be this hotel has some kind of connection with the Easter Island, I wonder. 

11055606_396730957155707_1343394548_n

Once coming inside the hotel, I wasted no time to meet and check-in with Ms. Sabrina, the chief executive of CWMUN International and my interviewer during the application process. I also asked her if the other two Dias members of my G-20 committee, Mirna from Malta and Maria from Spain, had arrived yet. They hadn’t, so I came down to the lobby level and waited for them. There, I realized that there were actually two check-in room, one for Italian students and the other for international students and staff. Since Associazione Diplomatici, the managing organization of CWMUN, is an Italy-based organization, I wasn’t surprised that Italian students had their own check-in room. But isn’t it an irony that American students somehow become “international students” on their own land? 

One hour passed, then two, three, four, five, and six. I still couldn’t get my room, while more than 1600 students, advisers and staff from 93 countries were coming, talking, laughing, grumbling and frustrating around me. I met a Russian guy currently studying his last year in Saint Petersburg State University, who warned me that in June the sun never sleeps in Russia, so I had better bring dark tape or curtain with me to cover the window. He seemed honestly perplexed when I told him that Eastern Europe is very wary of his country’s behaviors, since “We maintain our security, and what’s wrong with that?”. I also met a Filipino who is completing his second Master degree in Yonsei while teaching at an university in Manila. We passionately discussed the future of ASEAN and the common interests between our two countries. “It’s rare to be able to discuss these things with someone”, he told me, and I told him that I felt the same. 

Finally, I got my room key at 7.00 PM, only to have a staff meeting at 8. I met my two roommates, one from India and one from Pakistan, both flied straight from their respective countries to NYC. Soon enough, our immediate and imminent challenge was to decide how 4 adult guys (there’s supposed to be one more, a Chinese American) could squeeze into a 2-bed room. The beds were big enough, but how could we strangers sleep together on the first day we met? The issue was settled with me voluntarily sleeping on the couch, while the other 3 would rotate to sleep with each other. The couch was obviously not as comfortable as the beds, but given one guy’s snoring level and another guy’s frequency to speak while sleeping, I just couldn’t complain. 

And why was I the only one who brought the toothpaste? 😥 

share (2)

Friday, March 20th: Second Day

My alarm rang at 7.30 AM. As usual, I intrinsically turned it off in order to sleep a bit more, but since it also woke my roommates up I had no choice but to join with them. We took turn to take shower and iron our shirts and suits. In a half-conscious state of mind, I looked out of the window, and my heart stopped. 10569916_1620355531517194_1513691252_n 

Where was my spring weather?? Why was there heavy snow on the first day of spring??

I had been super exited for today, since we were going to hold the Opening Ceremony in the General Assembly of the United Nations Headquarters, literally several blocks away from the Grand Hyatt towards the Harlem river. Due to an unexpected meeting of the UN Women that morning, our Ceremony would be moved to the afternoon, and the first session would begin in the morning instead. “Fine for me”, I thought, “hopefully the weather would get better soon”. (I couldn’t be more wrong).

I went to the conference room a bit early to meet Mirna and Maria. Both have graduated from university, with Mirna currently pursuing a law degree in the UK. We had a bit chit-chat to introduce ourselves, our experience with MUN and divide our specific roles. The G-20 Committee, which consists of delegates from 19 richest countries in the world plus the European Union (not counted as a country ops), would tackle on three agendas: infrastructure investment in developing countries, energy market resilience and safe drinking water for all. None of these was in my area of interest, but I was still very eager to learn more from what the delegates would bring to the discussion. 

16 delegations were present, with the exception of Australia, Germany, India and Russia. The agenda of infrastructure investment was the first order of business, and the delegations moved into formal debate and moderated caucus. However, most delegates didn’t seem to catch up with the pace yet, since the issues they raised were rather diverged and unfocused. For example, the focus of the discussion kept jumping from manufacturing infrastructure to education to government role in economy to food security (?!), without a “hook” to develop the discussion further and deeper. The more experienced delegates could feel the deadlock too, so they put in a motion for an un-moderated caucus, so as to break the ice, concentrate on focal points and form caucuses based on common interests. That motion overwhelmingly passed. 

One problems appeared, however. The more experienced delegates gathered outside of the conference room with the majority of delegations, leaving just a few, more reserved delegations inside the room. Of course, that huge group was bounded to break up, but in order to speed the debate up and make it more spirited, I decided to back-channel and balance the delegations into developed and developing blocks. I convinced Indonesia, South Africa, Saudi Arabia, Brazil, Argentina to join the developing countries caucus led by China and South Korea. In return, I convinced Canada and Mexico to join force with the U.S. and Turkey to side with the European Union, all of which altogether created the developed countries caucus with Great Britain, France and Italy. I didn’t manage to turn Japan away from China and SK though. Nonetheless, with the formation of two rather distinctive blocks, the “hook” was around what type of investment should be prioritized, domestic or foreign. From this point, the debate became much more spirited and competitive. 

The first session ended at 12.00. After a brief staff meeting, I went to lunch with some other staffers, then together we walked to the UN. It was literally raining snow outside, but nothing can halt our excitement, really. Walking along the UN complex to reach the guess entrance, I passed across the 192 flags representing 192 member states of the international community. The line of flags was so long that it seemed to be limitless. Any clearer indication of the vastness and diversity of our world?

And then I came inside the General Assembly, and it was just speechless. Finally, a dream came true.

1737547_348225558707037_900806878_n

Everyone wanted to take pictures from the podium, but the security guards were just to tight T_T

10537946_1602473643326040_2016499552_n (1)

Obviously, I didn’t miss the chance to *pretend* to represent my country 🙂 The picture’s quality was not ideal, since the security was chasing us and we had to make it quick 😦 

11087025_10152842165102523_964453738_n

The speeches themselves were not very intriguing to me, partially because they were made in Italian and the translator didn’t do a good job at translating them to English. But like one speaker said, I was able to breathe the history and feel the responsibility within these walls. My goal to become a diplomat was thus never be stronger.

I returned to the Grand Hyatt with Mirna after we ate dinner. Before going up to our floors, we went to a conference room to fill our bottles with water from the morning. After all, what is free here is invaluable. 

11055420_379664208888302_15179632_n

P/S: This city is not the same without you :p 

Saturday, March 21st: Third Day

At 8 AM, I came to the conference room, only to find no one there but a single cardboard that said the G-20 committee had been moved to room ABC on Lobby floor. “What the hell?” I grumbled, while rushing through the crowd of suits and dresses to the first floor. There, Mirna was waiting for me at the front door, grumpy and explosive.

“Giang, you need to talk to the Chief of Staff, and tell him that it’s impossible to do conference in this room. I have already talked to him, and if I have to do that again I will just shout at him.” 

The room was indeed terrible for a Model UN. It was spacious and luxurious, yes, but a living room nonetheless. There was no table for the delegates to place their plate cards or write on. Heck, there wasn’t even a table for our Dais. I was obviously upset,  yet I still convinced Mirna that this decision to move our committee probably came from the Hotel instead of the organization. Complaining to the Chief of Staff or shouting at him wouldn’t accomplish anything anyway. She would continue to grumble, however, even after the hotel staff brought our table in. 

I began to conduct the roll call. Since today we should be able get at least one resolution and vote on it, the delegates would either say “present”, which means they can abstain during the voting procedure, or “present and voting”, which means they have to vote. The better option is unquestionably “present”, since the ability to withhold your vote will make it much more valuable and leave you room for maneuvering between different factions during the negotiation. A vote of “No” will expose you to animosity from the sponsors of the resolution that you oppose, while a vote of “Abstain” will make you the center of attention from both sides to convince you to change (or keep) your mind, should the resolution fail to pass. 

Once I concluded the roll call, the delegates moved to a short moderated caucus, then several long unmoderated caucuses to finish their working papers. While the developed countries block focuses more on domestic investment, the developing countries block revolved around how to keep foreign investment from developed countries flowing into them. At this critical stage, I tried to avoid meddling in the negotiation as much as possible. The only two times I decided to intervene were when Canada and Mexico broke off from the U.S to join the developing countries block, and when France and Italy miraculously departed from U.K and the European Union to join side with China and South Korea. I succeeded in helping the U.S to retain the support of Canada and Mexico by promise to strengthen the NAFTA commitment. However, Italy and France were adamant , and Italy even became the main sponsor of the resolution from developing block. Surely, some dramatic behind-closed-door deals must have occurred last night. 

share (1)

By noon, there were two draft resolutions on the floor ready to be voted upon. We were about to take the votes and finish this first agenda when our chairwoman found it surprised to have two draft resolutions in the first place (!?) According to her version of Model UN, there can be many working papers, but eventually they all have to merge into one big resolution. Needless to say, I and others were awestruck. The very essence of Model UN are competition and cooperation, and the competition lies at the different perspectives translating to different solutions and resolutions. Even diplomats in real life too often find themselves at unbridgeable odds with each other, and if it’s impossible to bridge the differences among them, what is the point of forcibly merging the differences to create a delusion of unity? 

Mirna didn’t buy it, and insisted on her own way. The delegates had no choice but to work among themselves to create one single draft. I would not attend a Model UN in England, ever :)) 

After the session ended, we the Dias had to attend a staff meeting. There, we had the chance to voice any issue we had with our committee. Mirna wanted to talk about the condition of our conference room again, but she (and I and Maria) were literally speechless when we heard what troubles other Dias had to encounter:

“There’s this boy in our committee who took one of his shoes out, banged it on the table, and demanded that we ended the committee 2 hours before the schedule.”

“I don’t know what to do. Our delegates keep speaking Italian and Spanish during the session.”

“Our delegates didn’t return to their seats at the end of the unmoderated caucus.”

“The delegation of Italy was not present in our committee. Yet, we still found a note sending to the delegation of the United States from the delegation of Italy.”

“We are in the Security Council, and the delegation of China just vetoed the resolution that our delegates have worked on for the last two days. They are traumatized now.”

We looked at each other. How lucky we are…

Sunday, March 22nd: Final Day

There are often four awards during a MUN: Best Position Paper, Honorable Mention, Best Delegation and Delegates’ Best Delegation. The first three were our responsibility to pick, while the last one would be voted upon by the delegates. The Best Position Paper award had been decided to be Turkey, while the delegates voted for Italy to be their best delegation. However, we still needed to debate who would get the 3 Honorable Mention and 1 Best Delegation. 

“Look, Italy and the United Kingdom are clearly the most notable delegations in this room. But since Italy has had the Delegates’ Best Delegation, we should give Great Britain the Best Delegation.”

“I don’t think that’s right. We should consider the award solely based on the delegation’s performance, not on whether or not they should have more than one award.”

“But the both delegates of Italy equally contributed, while only one of UK did. The other girl was invisible.”

“That only makes the one from UK more deserved to be the best, since she had single-handedly  made such huge contribution to the committee.”

“Then give her a Honorable Mention. Italy will be the Best Delegation, and the Delegates’ Best Delegation will be given to the delegation with the second-to-highest vote.”

“That seems unfair to UK, she deserves much more than a Honorable Mention.” 

Eventually, we ended up with UK as the Best Delegation, Italy as the Delegates’ Best Delegation, Canada, South Korea and Japan with Honorable Mentions, Turkey with Best Position Paper. All awards were given instantly, except the Best Delegation, which would be announced during the Closing Ceremony. The delegate from UK, a young woman coming all the way from India, was visibly upset for not hearing her name. She asked me:

“Italy would get the Best Delegation, right?”

I told her that I couldn’t say anything. However, she interpreted that ambivalent attitude of mine as a confirmation of her doubt. She told me that she wouldn’t attend the ceremony, since she had to be on time for her flight.

“Wait, but… Well… Alright, you get the Best Delegation, okay?” 

“But I still have to, wait, what, are you sure???”

“You hear nothing from me, you remember that.”

Needless to say, she was so happy that she agreed to stay for the ceremony right away. In the end, it was me who was unable to attend the closing ceremony, since I couldn’t miss my bus back to school. 19114_10206250608887897_4660210863431135728_n

Geopolitical Diary: Connecting The Dots – Hoàn Chỉnh từ Hỗn Mang

Hồi lớp 1 học toán hay có bài tập nối điểm: Mỗi điểm gắn với một con số, nếu nối đúng theo một trình tự nhất định thì từ các điểm có vẻ được sắp xếp ngẫu nhiên sẽ hiện ra một bức tranh hoàn chỉnh. Ngược lại, nếu chỉ nối 2 điểm thì được 1 đường thẳng, hay 3 điểm thì được 1 tam giác. Số lượng điểm nối càng ít thì cái bạn thấy càng đơn giản, và càng kéo xa bạn khỏi bức tranh hoàn chỉnh đang ẩn giấu đằng sau.

Trong Quan hệ Quốc tế (International Relations), các vấn đề thường mang tính đa chiều và đa phương, ít khi gói gọn trong một lĩnh vực hay một khu vực. Giống như khi nối 2 điểm thành một đường thẳng, bạn coi một thỏa thuận thương mại chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, hay một cuộc chiến chỉ là chuyện nội bộ giữa 2 phe tham chiến. Nhưng nếu bạn đào sâu hơn, kết nối những điểm tưởng chừng xa vời với nhau, bạn sẽ nhận ra đằng sau thỏa thuận thương mại đó là những toan tính chính trị đậm chất raison d’État – phục vụ cho lợi ích một quốc gia, hay cuộc chiến kia đã lôi kéo những quốc gia xa xôi vào cuộc. Connecting The Dots giúp ta nắm được bản chất vấn đề và nhìn ra cái hoàn chỉnh từ sự hỗn mang.

Lấy cuộc xung đột giữa Israel và Hamas gần đây làm ví dụ. Nhắm mặt lại trong vài giây, và để những gì bạn biết về cuộc xung đột này lướt qua trong đầu. Đây có phải những gì bạn thấy?

Máy bay của Israel tấn công dải Gaza, biến nhà cửa, trường học, bệnh viện thành bình địa.

Những em bé Palestine bị vùi lấp trong đống đổ nát, những cụ già Palestine không chốn nương thân phải trú trong những túp lều đựng tạm của UNHCR.

Những tay súng Hamas chỉ với lương khô và màn thầu chống lại những người lính Israel được trang bị khí tài hiện đại.

Lãnh đạo hai phe chửi bới nhau, thề người này chỉ sống khi người kia chết. 

Những hình ảnh trên được truyền thông thế giới truyền tải cho đại chúng về cuộc chiến Israel-Hamas, và đã góp phần khắc họa cuộc chiến này dựa trên 2 giả định (1) đây là một xung đột gói gọn trong 2 bên tham chiến trực tiếp, giữa người Do Thái và người Palestine (2) nếu 2 bên có thể thương lượng khôn khéo để đạt đến thỏa thuận 2 nước (Two-State Agreement) thì những thảm kịch diễn ra sẽ chấm dứt. Từ đó thế giới chia làm 2 phe: 1 phe bênh Israel, đổ cho Hamas tấn công trước và hèn hạ nấp sau dân thường, phe kia bênh Palestine, đổ cho Israel vừa vô nhân đạo vừa phá vỡ đàm phán hòa bình. Không phe nào chịu phe nào…

Cái sai lớn nhất của góc nhìn này là coi cuộc chiến Israel-Hamas như một “independent struggle” có thể giải quyết riêng biệt chỉ với những người trong cuộc bắt tay với nhau, nói một cách khác như một đoạn thẳng với hai điểm. Hầu hết mọi người đều không nhận ra rằng cuộc chiến này chỉ là một phần nhỏ trong của một cuộc chiến lớn hơn, một cuộc chiến sinh tử trong thế giới Arab, được tạo nên bởi những đối địch lâu đời về tôn giáo và chủng tộc. Khốc liệt đến đâu, nó chỉ là một proxy war giữa các địch thủ không đội trời chung: Thổ Nhĩ Kì, Iran, Qatar, Ai Cập và Saudi Arabia, chia cắt bởi dòng chảy hùng mạnh của lịch sử và địa lý qua hàng thế kỉ. 

Vậy đâu là những điểm cần phải nối trong bức tranh tàn khốc này?

Là Ai Cập, nơi khởi đầu của bi kịch này và sẽ là nơi kết thúc. Tổ chức Muslim Brotherhood, đứng lên lãnh đạo Ai Cập kể từ sau khi tổng thổng Mubarak bị truất ngôi giữa Mùa Xuân Arab, giữ một mối quan hệ rất thân thiết với Hamas. Những đường hầm kết nối Ai Cập và Gaza mang lại khoản lợi nhuận cần thiết cho Hamas hoạt động và chiếm 40% GDP của Gaza. Tuy nhiên sau 2 năm cầm quyền, một nhóm tướng lĩnh độc tài lật đổ Muslim Brotherhood, không chỉ bắt giam lãnh đạo của tổ chức này mà còn đóng tới 95% số đường hầm giữa Gaza và Ai Cập. Mất đi nguồn thu nhập chính, Hamas quyết định tấn công Israel, hi vọng với việc khắc họa bản thân như những con chiên tử thân chống lại người Do Thái, cộng với hình ảnh trẻ em Palestine thiệt mạng tràn ngập thế giới Arab sẽ tạo nên áp lực ép buộc Ai Cập dỡ bỏ cấm vận. Hamas tấn công Israel, nhưng họ đang nhìn về Cairo. 

Là Arab Saudi, dù từng là địch thủ không đội trời chung của Israel nhưng giờ đang bí mật hỗ trợ nước này nhằm làm suy yếu Muslim Brotherhood, tổ chức mà những ông vua sa mạc cho rằng sẽ một ngày chiếm ngôi họ như ở Tunisia và Ai Cập trước đây. Họ sẵn sàng chiến đấu với những người anh em Sunni Qatar và Thổ Nhĩ kì nếu cần thiết. 

Là Thổ Nhĩ Kì, hết lòng ủng hộ Hamas, là truyền nhân của đế quốc Ottoman vang bóng một thời và vẫn giữ mối hận thù với Arab Saudi vì đã dám bán mình cho phương Tây khi đế quốc Ottoman suy yếu. 

Là Qatar, quốc gia giàu nhất thế giới, không cam chịu phải ẩn mình dưới cái bóng của Arab Saudi. Giữ quan hệ thân thiết với cả Hamas và Muslim Brotherhood, Qatar được các nước kì vọng sẽ tạo điều kiện cho một hiệp ước hòa bình Israel-Hamas. Có điều không biết họ có muốn thế không? 

Là Iran, bỏ qua mọi đối địch giữa hai dòng Hồi Giáo Shitte-Sunni để hỗ trợ cho Hamas cả về tiền lẫn vũ khí. 

Thế giới Arab đang dậy sóng, với những mối thâm thù truyền kiếp Sunni-Shitte, Sunni-Sunni, Saudi-Iran, Arab authoritarians-Fundementalist Islamists xen lẫn vào với nhau tạo nên một mê cung không lối thoát. Connect The Dots, bạn sẽ nhận ra cuộc xung đột Israel-Hamas, một proxy war giữa Thổ Nhĩ Kì-Qatar-Iran và Ai Cập-Arab Saudi, nhỏ bé thế nào khi đặt trong bối cảnh của một tiến trình lịch sử đầy biến động và phức tạp. Israel-Hamas không còn là cuộc chiến giữa những nền văn minh, giữa Dân Chủ Phương Tây và Chuyên Chế Trung Đông, mà đã trở thành một phần của cuộc nội chiến trong lòng nên văn minh Arab nhằm quyết định tương lai của mình. 

Khi xem xét một vấn đề, bản năng con người thường ưu tiên những thứ straight-forward, rõ ràng và đơn giản nhất. ta gọi đó là lý trí. Ở một mức độ nhất định, lí trí thường sai khi tiên đoán về tương lai. Thời đại đến rồi đi. Quyền lực trỗi dậy rồi biến mất. Những điều thoạt nhìn quá hiển nhiên và rõ ràng ở một thời điểm lịch sử có thể thay đổi trong khoảnh khắc. Thế giới của ngày hôm nay có thể khác với thế giới của 20 năm sau, hoặc ít hơn. Con người thường tự giới hạn trí tưởng tượng của mình, kìm tỏa nó trong cái gọi là common sense, để rồi cho rằng những thứ thoáng qua là vĩnh cửu và bỏ qua những dòng chảy thay đổi hùng mạnh tồn tại xuyên suốt lịch sử nhân loại. 

Lịch sử thường lặp lại, nhưng con người thì chóng quên. Những cụm từ “lần đầu tiên” hay “chưa từng có” có một sức hút đặc biệt vì chúng cho ta cảm giác được tách rời khỏi quá khứ, được chứng kiến và trải qua những gì chưa từng xảy ra. Trớ trêu thay, phần nhiều là ngộ nhận. Khủng hoảng kinh tế năm 2008 khiến người Mĩ cho rằng họ đang ở đáy sâu chưa từng có, nhưng kì thực đó chỉ là một phần trong chu kì lên xuống của kinh tế. Nhiều người cho rằng chưa bao giờ vùng Trung Đông lại đẫm máu như hiện tại, nhưng sự thật xung đột tôn giáo và sắc tộc đã là một phần tất yếu của khu vực này hơn 2000 năm qua. 

Chỉ những ai nắm bắt được dòng chảy lịch sử và địa lí mới có thể nhìn thấu tương lai qua sương mù hiện tại. Chỉ những ai có thể Connect The Dots mới có thể nhìn ra sự hoàn chỉnh từ thế hỗn mang.

First Blog Post: A Journey Begins

Starting a blog has stayed on my New Year Resolution for quite a long time. Every year, I wrote that goal down while cursing myself for not getting it done already, and swore to God that I had to make it happen. Yet, whenever I was resolute enough to declare “Okay, let’s do this”, there was this voice whispering “One more day” inside my head, and my resoluteness evaporated a second after. Tragically, “One more day” always became “One more year”. 2012 came and went. 2013 came and went. 2014 came and went. My dream blog was still a dream, and tomorrow never died.

BUT, this year will be different. Thanks to one person’s encouragement, I can finally defeat the self-postponement monkey and start my own blog. Doubtlessly, writing a blog fits perfectly with my personality and future plans, and I am very eager to begin this much-delayed adventure. After all, to read, to think and to write have always been my life-long passion, and I am happy to share with you my thoughts, my experiences and my memory. Likewise, I am equally happy to receive feedback and comments on what I write, for the dual purpose of discussion and self-improvement. 

So, what am I going to write about? Like the tittle of this blog, I want to write about my journey to join the foreign service and become a career diplomat. I will write about the steps I have taken and will take to achieve that dream, about the plans I have, the places I go, and the people I talk with. I will also write about the books I read, the events I attend, the issues I care and the movies I watch, basically my thoughts and experiences about anything and everything. Above all, I will spend quite a lot of time writing about the past, from either a personal or universal perspective, since memory does matter to me. 

Relics of the past surrounded and shaped my childhood as far as I can remember. Since my parents worked far away from home, I used to spend most of the day with Grandfather. An ardent Communist and veteran of the Vietnam War, he often told me the fascinating stories of his days fighting in the jungle of South Vietnam. Although Grandfather died when I was still young, I inherited from him something that has since become essential to my identity, that is, an appreciation for the past. Just like how I had learnt about Grandfather’s memory of the war, I was eager to learn about how people used to live and interact with each other, how they went to work, had children, fell in love and came to hate. I was so passionate, because even in my boyish mind there was the unshakable conviction that the past matters. Because history is full of important lessons and precedence, we need to explore it in details, for no other purpose than to understand the presence and shape the future.

From the stories of my grandfather and the countless hours I have spent studying about the past comes the bedrock of my dream. To me, a diplomat not only needs an excellent grasp of history but also needs to appreciate history per se. He needs to understand how the memory and experience of both his country and others’ influence their attitudes and behaviors, so that he can effectively negotiate with and convince his friends and opponents alike. Hopefully, my appreciation for the past will push me on the diplomatic path ahead, and help me contribute to the national interests, regional development and global stability.

Having said that, I should very well tell you how I decided to pursue a career in the foreign service in the first place. Actually, until three years ago, I still didn’t have a clue on what I wanted to be. I spent the first five years of my education thinking about how to bring dinosaurs back to life. For the next four years in Marie Curie, I tried to convince myself that Biology was my destined-to-be future, just because it was the only subject that made me stand out in class (I was just above-average in English back then). Such a castle of glass couldn’t hold for long, however. Two years in the High School for the Gifted – Hanoi University of Science was enough to shatter that illusion, but for a time I felt directionless. Fortunately, I met several important people during that time, particularly Dr. Bui Phuong Lan of Vietnam Institute of American Studies and the late Professor Douglas Jardine. Those two, together with other people, have introduced me to the field of International Relations and Politics, and encouraged me to explore this amazing field. Needless to say, I fell in love with it, and became constantly hungry for more knowledge. When I first came to the U.S three years ago and studied in a small boarding school in Pennsylvania, I have already set my path straight. Being a diplomat, I concluded, will not only satisfy my aspiration for the IR scholarship, but also fulfill my ambition to serve my country and family. It is indeed my destiny. 

Well, that’s it for the introduction. Oh, and have I said that I plan to minor in Russian, and will go to Moscow and Saint Petersburg this summer? That sounds like a log of posts in the future, doesn’t it?

Do svidaniya!

547862_580179852050454_797783085_n

The little me graduating from kindergarten, and the big me graduating from high school (I was quite dark-skinned then, due to all the soccer practices T_T)

553226_422117501190024_1436015621_n

Meeting the Vietnamese Ambassador to Panama in Panama City. He really motivated me to become his junior!

1504070_569421423126297_487944115_n

Not those who wander are lost, hopefully…

10406840_748170211918083_768033338503267686_n

I came to Poland this winter break. Really nice country, and I got to talk with the American Ambassador there!

10347625_621685877931664_9219066400478436261_n

With my beloved, matriarchal Franklin & Marshall Gang celebrating 2015 Lunar New Year!

A night in Philly, with Mom

*Viết trong đêm vạ vật ở ga Philadelphia với chim và các bác lao công*

Sáng chủ nhật, mẹ thường dậy từ 6h30, lên sân thượng lắc vòng tiêu mỡ bụng rồi đi chợ. Không hiểu hôm nay linh cảm mách bảo thế nào, mẹ lại dậy lúc 5h, check email và biết thằng con đang kẹt ở Đoàn Viên Quán xứ Kinh Kì (Union Station, Washington D.C) vì mãi không dùng được thẻ visa mua vé về Philly. 

“Ông tướng tiêu kiểu gì mà ngân hàng nó đóng băng tài khoản rồi” Câu mở đầu nhẹ nhàng của mẹ mà con nghe như sét đánh ngang tai… 

Ngân hàng 24/7 kiểu Việt Nam chỉ bắt đầu hoạt động từ 8h (LOL !!??), nên trong lúc chờ con báo cho mẹ nghe chuyện bị waitlist toàn những trường kì vọng nhất. Mẹ nghe con càu nhàu chuyện thằng A con B chả giỏi hơn vẫn được nhận, rồi trường chắc ở chỗ lạnh quá nên run tay viết nhầm, rồi sau này con giàu con donate siêu nhiều tiền cho trường rival của bọn nó. Mẹ ngồi nghe, gật gù, thỉnh thoảng bồi thêm câu “đúng thế”, “số mà” mới cả “ui giời thèm vào”. Con càng được thể trút một lèo hằn học ^____^

Con càu nhàu chán rồi, mẹ kể chuyện đi xem bói một ông cựu đặc công được ăn lộc giời, tháng trước ông phán là “đường nghiệp của thằng con cô gập ghềnh lắm”, tháng này lại phán là “giờ bằng phẳng hơn rồi, 90% sẽ vào được đh, lại còn có mùi tiền nữa”, mẹ khuyên con kiên nhẫn chờ đợi, rằng “it’s always darkest before the dawn”. Con nghe mà tự hỏi không biết lộc giời có bay sang được tới những Nashville-TN, Lancaster-PA hay Hamilton-NY không? Well let’s wait to see ~.~

Có đi có lại, đến lượt con nghe mẹ phàn nàn. Mẹ kể hôm nọ đi họp lớp Chuyên Ngữ khóa 16 class of 1985 (hay 86?), thấy các cô khi xưa học kém mà giờ giàu nứt đố đổ vách, đi toàn ô tô to đùng, trong khi mẹ học giỏi mà lại vào team thiểu số đi 2 bánh. Nhân tiện nói về việc hai bánh, con hỏi mẹ thế hè này xe pháo thế nào. Mẹ bảo xe bus. Con bảo xe bus giờ 7k một shot rồi. Mẹ bảo vé tháng. Con bảo vé tháng không dùng được thẻ học sinh Mẽo. Mẹ bảo mua xe đi được 3 tháng thế 9 tháng còn lại đắp chiếu à. Con bảo con dùng xe mẹ, đèo mẹ đi làm luôn. Mẹ bảo xăng lên giá. Con bảo đi dạy kiếm tháng 1 củ là đủ. Mẹ bảo chưa có bằng. Con bảo hè về học 10 ngày là có. Mẹ bảo muốn đi xe hè về phải dạy em luyện thi CNN. Con bảo ô tô kê, cứ cho chìa khóa thì con làm tất. 

Mẹ còn lôi đâu ra quyển vở tiếng anh của con lớp 6, hồi con còn “My name am Giang” với cả “Where is you?” Ở tiểu học con rất ghét học tiếng anh, ghét luôn cả những ai thích học, thế nên mẹ chờ con lên lớp 6 thì quyết tâm tái đào tạo, bắt đầu từ ABC 123. Con vẫn nhớ hai mẹ con ngồi nghe hội thoại english, mẹ bắt con phải ghi lại từng từ một họ nói. Con nghe mãi không quá được 1 câu, quay sang đã thấy mẹ ngủ gật bên cạnh, thế là kéo chăn đắp cho mẹ rồi lặng lẽ đào tẩu =)) Từ hồi bập bẹ đấy đến giờ đã là cả một quãng đường dài, nhưng mẹ vẫn là người thầy quan trọng nhất của con. 

Một lát sau, ngân hàng gọi đến bảo sửa được rồi nhưng con vẫn không trả được, phải nhờ bạn trả hộ. Về đến Philadelphia cũng đã 1h sáng. Dù đã nhiều lần qua đêm ở sân bay, con vẫn ghét cái sự lạnh lẽo vắng vẻ của ga tàu về đêm. Tai nghe “Huyền thoại mẹ” mợ Đàm ca, con vừa viết những dòng này vừa ngáp dài. 

Tennis và mấy chuyện nhăng nhăng…

(1) Mình đến với tennis từ hè 4 năm trước, lúc chuẩn bị vào Tổng Hợp. Căn bản thi xong lớp 10 chả có việc gì làm, mà mẹ sợ thằng con lại rảnh rỗi sinh nông nổi. Thế là cứ 5h sáng là lại lê lết ra cái sân gần công viên Tuổi Trẻ Thủ Đô. Lạ cái là cứ lúc nào ra là đều gặp một thằng cu con nhỏ thó, lúc thì tập vung vẩy một mình lúc thì với cái tường. Hỏi năm nay em bao nhiêu tuổi nó kêu 12. Hỏi mấy giờ em tập thì nó kêu 8h. Hỏi bây giờ mới có 5h mà thì nó nhe răng bảo em thích tennis lắm. Được nửa năm thì nó chuyển đi đâu mất. Tháng trước tình cờ đọc thấy có đứa 16 tuổi Hà Nội vào chung kết Giải quần vợt các cây vợt xuất sắc Việt Nam, tên giống giống, mặt ngờ ngợ, dáng quen quen. À, thì ra thằng cu năm xưa ^~^

(2) Cả tháng đầu ông coach trẻ không cho đụng vào vợt mà chỉ toàn cho tập footwork chảy, nhảy, vung tay vung chân, xoay vai xoay hông, chả khác gì mấy cái tập thể dục trên lớp. Được mấy buổi thì vứt luôn vợt ở nhà, không thèm đem đi LOL Sau này mới hiểu đối với tennis cái lúc mặt vợt chạm vào bóng là giai đoạn cuối của cả một quá trình nhìn đối thủ, nhìn bóng, di chuyển, xoay người, khuỵa đầu gối rồi quay vai, đưa tay. Mình thấy nhiều ông chơi chỉ xoay mỗi tay, còn người cứ đơ như khúc gỗ, chơi được một tí là vẹo cả tay =)) Thế mới biết xây nhà là phải xây từ móng, xây từ nóc thì chỉ có … sập ^________^

(3) Một trận bóng đá đôi khi được quyết định bằng một khoảnh khắc huy hoàng: chỉ cần một bàn thắng siêu đẹp là đã kết thúc trận đấu. Tennis thì ít nhiều mong manh hơn vì (1) không giới hạn thời gian (2) điểm chọn người chứ người không giành điểm. Anh có quả bay người cứu bóng tuyệt đẹp, được khán giả vỗ tay ầm ầm thì cũng là vô nghĩa nếu ngay điểm sau anh đánh bóng ra ngoài hay không qua lưới. Tương tự, chẳng may bỏ lỡ một cơ hội mười mười hay double-fault, thì cũng chẳng ai thèm nhớ đến nếu như anh thắng “giơ” đấy hay “séc” đấy. Cái khó là phải kiềm chế được cái sự tự thỏa mãn của bản thân mỗi khi đánh được một cú đẹp, hay sự tự trách móc mình mỗi khi mắc lỗi không đáng có, không đánh mất tập trung, chiến đấu và tin rằng trận đấu chưa kết thúc cho đến điểm cuối cùng. Một trong những lí do mình thích Federer là anh rất ít khi biểu lộ emotions, dù cho khi đánh ăn hay đánh hụt. Kết thúc một lượt đánh là đầu óc anh dường như nghĩ ngay đến lượt tiếp theo, không bị ám ảnh bởi chút huy hoàng hay thất bại quá khứ. 

(4) Sang đây chơi cho varsity team của trường, mình đánh đôi với một ông Hàn bằng tuổi, cơ mà tay trái. Cái quan trọng nhất trong đánh đôi là hai người partners phải tuyệt đối kiên nhẫn và tin tưởng nhau: bạn có mắc lỗi, dù là ngớ ngẩn, cũng nhất thiết không được tỏ thái độ bực dọc hay khinh thường. Nhiều khi chỉ cần cái vỗ vai động viên, một cái cười hay một phát high-five là đủ để lấy lại sự tự tin cho đồng đội. Mình từng chứng kiến không ít các cặp đối thủ quay sang quát tháo rồi tranh giành nhau bóng, không khác gì làm mồi ngon cho giặc (team mình) cả. Nhưng cũng không được vì tin tưởng mà thành ra dựa dẫm. Nếu bóng trong tầm của mình thì phải cố hết sức đánh trả lại, không được ỷ lại có đồng đội phía sau. Nhận biết được lúc nào cần quyết đoán, chủ động dấn lên hay lúc nào nên chủ động lùi lại chờ thời cơ, không chỉ là essential với tennis mà còn với mọi quyết định trong cuộc sống.

1907950_626490564086049_5373011602152272356_n

Geopolitical Diary: Letter from Warsaw

Every city has a symbol and a tale that follows. Manneken Pis of Brussel, Liberty Enlightening the World of New York, or Rio de Janeiro’s Christ the Redeemer, all such symbols have grown to embody the spirits of their cities. They help eternalize the history and personality of the places that they represent against the force of time and geography. Warsaw, the proud capital of Poland for nearly five centuries, with its symbol Syrenka Warszawska – the Mermaid of Warsaw, is no exception.

But, Warsaw is hundreds of miles inland from Poland’s coasts facing the Baltic Sea. How come a mermaid, the daughter of the ocean, become the symbol of this city?

Surprisingly, this symbolization directly relates to the city’s name, Warsaw or Warszawa in Polish. In one popular tale, Sawa, a mermaid, ventured beyond the Baltic Sea to observe the human society. Swimming down the Vistula River, she arrived at a small town, where she got captured, and then rescued by a young fisherman named War. To reciprocate his kindness, she took a vow to forever defend the city, which was renamed as Warszawa. The symbol of Sawa holding a sword and a shield to fulfill her vow has been ubiquitously replicated here: in the city’s coat of arms, in the Polish parliament building, on the streets, everywhere. A statue of her was prominently constructed in the Old Town Square – the oldest part of Warsaw, where rumors say that Sawa first appeared on its riverbank.

Yet, evidently Sawa has not fulfilled her role very well, for the history of Warsaw, and Poland in general, is one full of war, struggles, tragedies and massacres.

Geographically, Poland is situated on the Northern European Plain, where three-hundred miles of flat terrain render it as an ideal invasion route. From the West came Napoleon Bonaparte’s Grande Armée, Frederick the Great’s Prussian legions and Hitler’s Nazi German army, all crossing through Poland to invade Russia, conveniently savaging every single Polish city and village along the way. From the East came the nomad tribes of the Tatars and Mongols, and the limitless forces of the Russian Empire and Soviet Unions that sought first to control Poland, then control Europe. It is probably no mere coincidence that the word “War” makes up the Polish capital’s name, since there would be few cities in the world that have suffered through as much atrocity and destruction. From 1655 to 1658, Warsaw was besieged, taken and rooted three times by the Swedish, Brandenburgians and Transylvanians. In 1700, the city was besieged and captured several times during the Great Northern War. In 1796, as the Polish-Lithuanian Commonwealth was partitioned between Austria, Prussia and Russia, Warsaw was annexed by Prussia, later transferred to the Russian Empire in the aftermath of the 1815 Congress of Vienna.

For a brief period following World War I, Warsaw became the capital of the Second Polish Republic, only to be invaded by Nazi Germany in 1941 and occupied during the next four years. It was during this time that Hitler ordered the constructed of various ghettos that served to imprison hundreds of thousands Jewish people in Warsaw and surrounding areas, then transporting them to the death camps where they would be gassed and killed like animals. In 1945, the Red Army of the Soviet Union defeated Nazi Germany and “liberated” Warsaw, destroying eight in every ten buildings in the process. From then on up until 1989, Warsaw became the capital of the People’s Republic of Poland, a puppet state imprisoned behind the Iron Curtain by the Soviets. Generations of Polish people have shed their blood on the land that I stand today, sometimes unintentionally as they suffered through hordes of the invading armies, sometimes intentionally as they fought for the very idea of freedom and self-determination, which is so quintessential to every human on earth.

Comparing the Mermaid of Warsaw statue with the Little Mermaid statue in Copenhagen, the capital of Demark, and you will see how intuitively they both represent and reflect the experiences of their cities. The Little Mermaid statue, inspired by Christian Andersen’s The Little Mermaid fairy tale, depicts the mermaid in the story, whose disillusion in human instilled in her a wistful longing for her old days as the daughter of the sea. Small, unimposing and melancholic, this statue correctly portrays Copenhagen as a peaceful and poetic city. In contrast, the strong and heroic posture of the Mermaid of Warsaw uncompromisingly speaks of the city’s experiences of war and death. Equally, it also represents the incredible spirit and determination of its people to get over the past tragedies.

Today, Poland is undoubtedly prosperous. Its high-income economy, extensively liberalized and reformed after 1989, has grown with an astonishingly high rate and is considered the most-healthiest among post-Communist countries. Its international standing is elevated by both its roles in the European Union and NATO, as well as its substantial alliance with the United States. Polish society is efficiently regulated, and Polish people are thoroughly educated and westernized. I have been neither in a city where all public places have instructions on both native language and English, nor in one where evading a fifty-cent bus ticket can lead to three-hundred-dollars punishment. I have also never known a place where a dog-owner, leaving his dog alone at home for one week with enough food and water, was sentenced one month in prison as a result. To faraway guests like me, the hospitality and generosity of the people here are nothing but commendable.

Having resurrected such an economically prosperous and socially stable country from ruins, Polish people will not stop. They understand how likely past tragedies can repeat. They also know how vulnerable they are strategically. Sandwiched between Germany and Russia, Poland was strong when those two weakened, and weak as they strengthened. The massive forces of Nazi Germany and Soviet Union attacking from both the Western and Eastern fronts rendered Polish defending efforts futile, leaving the country divided and occupied. Meanwhile, Great Britain and France, their avowed allies, stood still. Nowadays, with Germany the most powerful European country and Russia the increasingly malevolent (and desperate) power-player, Poland again has to face with their historical fear of threats on two fronts. Once again, they will need to improve and assert their strength, strengthen their ties with the United States, while preventing a Russian-German alignment from materializing. This time, however, Sawa can and may do her job right.

Geopolitical Diary: A Tale of Two Trash Cans

Thùng rác sinh để phục vụ nhu cầu “xả” của con người, từ cái que kem cho đến cái giấy gói kẹo, từ cái tinh tươm, sạch sẽ nhưng không cần dùng nữa cho đến cái ôi thiu, bẩn thỉu mà người ta trót thừa, trót mứa. Thùng rác vô tri không cảm xúc, gánh trọng trách làm sạch đẹp cho nhà cửa, đường phố, công sở. Dù đứng bất động, nó vẫn nhìn cuộc sống đổi thay từ những thứ rác rưởi khác nhau người ta ném vào. Không bao giờ được rửa sạch, nó lưu lại một chút dấu vết của những rác rưởi đó, để rồi một cách vô tình nó trở thành kẻ lưu giữ kí ức và là người kể những câu chuyện đã và sẽ bị lãng quên. 

Hai cái thùng rác, một ở Glasgow, Scotland, và một ở Kiev, Ukraine, chứa đựng những thứ khác nhau, sẽ kể cho ta nghe những câu chuyện chúng đang lưu giữ. Chúng sẽ dẫn ta đi ngược lại dòng chảy của không gian và thời gian, để ta hiểu được vì sao cùng một chiến dịch chính trị quyết định tương lai một quốc gia, mà ở Anh thì yên bình và dân chủ, còn ở Ukraine thì náo loạn và đẫm máu. Chúng sẽ chỉ cho ta bằng cách nào những khác biệt về lịch sử và địa lý đã đưa hai quốc gia đến sự đối lập vậy. Và biết đâu đấy, chúng có thể giúp ta vén he hé tấm màn chứa đựng tương lai của tự do. 

Và câu chuyện bắt đầu.

Thùng rác ở Glasgow sẽ cho ta xem tấm bản đồ nước Anh mà một cậu học trò đã làm rơi khi vội vàng đến trường. Nước Anh, hay đảo quốc Anh, quốc gia đầu tiên áp dụng thể chế dân chủ tự do (liberal democracy), được chia cắt khỏi Châu Âu lục địa qua một eo biển gọi là English Channel. Chính eo biển hẹp này đã năm lần bảy lượt bảo vệ nước Anh khỏi những âm mưu xâm lược của Chalemange, Napoleon, Kaiser Wilhem II hay Hitler: Muốn đặt chân lên đất Anh thì phải đánh thắng được hạm đội Hoàng Gia, một hạm đội hùng mạnh xuyên suốt lịch sử Châu Âu. Không bị đe dọa bởi nguy cơ xâm lược, chính trị của Anh không bị đặt dưới một chính phủ tập trung (centralized government) mà phân tán vào tay các lãnh chúa trong thời phong kiến (feudalism) và các nhà tư sản trong thời tư bản (capitalism). Quyền lực của vua Anh bị hạn chế từ công ước Magna Carta kí năm 1215 bởi vua John (bị ép buộc) đến cuộc Cách Mạng Vinh Quang (The Glorious Revolution) năm 1688. Đến cuối thế kỉ 18, dù trên lí thuyết đứng đầu nước Anh vẫn là vua, nhưng quyền lực thực tế nằm trong tay Nghị Viện (Parliamentary). Chính sự chia tách quyền lực giữa vua-quý tộc-tư sản đã tạo điều kiện cho dân chủ tự do, bao gồm những giá trị về luật pháp, phân quyền, tự do ngôn luận, tôn giáo… nảy sinh và phát triển. Hàng trăm năm phát triển của dân chủ tự do đã in vào bản sắc nước Anh sự tôn trọng với những quan điểm/góc nhìn khác nhau và niềm tin vào nguyên tắc đa số (majority rule), để rồi đến ngày 18/5 vừa rồi, cuộc trưng cầu dân ý cho độc lập (refenderum for independence) ở Scotland diễn ra và kết thúc một cách ôn hòa giữa bên thằng và bên thua. 

Thùng rác ở Kiev sẽ kể cho ta một câu chuyện buồn hơn. Nó sẽ cho ta xem tấm bản đồ Ukraine nhàu nát và thấm máu, bị xé vội ra khỏi một trang sách để bị một vết thương do đạn bắn. Qua hàng thế kỉ, Ukraine, trong tiếng Slavic cổ là “vùng biên giới” (Borderland), luôn nằm dưới bóng của những quốc gia khác, khi thì thuộc nước này, lúc thì thuộc nước khác, và thường xuyên bị chia năm sẻ bảy. Thế kỉ 17 và 18, Ukraine bị chia cắt bởi Nga, Ba Lan và đế quốc Ottoman. Thế kỉ 19, Ukraine bị chia đôi bởi Nga và Áo Hung. Cuối cùng, Ukraine là một phần của Liên Xô trong gần hết thế kỉ 20, và người dân Ukraine chịu nỗi thống khổ tột cùng khi bị mắc kẹt giữa Hitler và Stalin, giữa diệt chủng thẳng thừng và chết đói có tính toán. Do có quá ít kinh nghiệm về độc lập và tự trị mà quá trình xây dựng quốc gia của Ukraine trong thời kì hậu Liên Xô mang tính chất tự phát và chia rẽ chứ không có sự gắn kết bền vững các tầng lớp xã hội với nhau như phong trào Solidarity ở Ba Lan. Người Ukraine muốn độc lập, nhưng không hẳn là độc lập. Người miền Tây muốn quốc gia của họ gia nhập Liên Minh Châu Âu, con đường mà theo họ sẽ mang tới cho Ukraine sự giàu mạnh như nó đã mang tới cho Ba Lan. Người miền Đông nghi ngờ về con đường đó, cho rằng Ukraine sẽ bị chi phối bởi Brussel, do đó muốn quốc gia của họ xích lại gần hơn với Nga, nước mà họ luôn có cảm tình. Để rồi khi cuộc biểu tình EuroMaiden làm bùng lên niềm hiềm khích bấy lâu giữa hai miền, cũng là lúc Ukraine, một quốc gia-hai nẻo đường, đứng trước nguy cơ bị chia cắt mãi mãi. 

Nguyên nhân sâu xa của sự khác biệt giữa Anh và Ukraine bắt nguồn từ lịch sử và địa lý. Thế còn nguyên nhân trực tiếp thì sao?

Thùng rác ở Glasgow sẽ cho ta xem một tờ poster nhàu nát của phe Yes (ủng hộ độc lập) in khẩu hiệu “Better Together” của phe No (chống độc lập) trên nền điện Westminster của London, nơi mà Nghị Viện của Anh hội họp, cùng dòng chữ “Scottish voters, Tory Government”. Người Scotland chủ yếu có quan điểm chính trị thiên tả (left-wing), chú trọng vào phúc lợi xã hội và quyền lợi của người lao động. Trong khi đó, chính quyền Anh hiện giờ dưới quyền kiểm soát của đảng Bảo Thủ (Conservative, còn gọi là Tory), có xu hướng thiên hữu (right-wing), chú trọng vào lợi ích của giới doanh nghiệp để phát triển kinh tế. Chính vì thế, người Scotland cảm thấy họ không có tiếng nói trong quá trình điều hành đất nước, khi những chính sách chính quyền London đưa ra trái với quan điểm của họ. Cuộc trưng cầu dân ý độc lập vừa qua không bắt nguồn từ những hiềm khích lịch sử giữa người Scotland và England: người Scotland bỏ phiếu Yes không phải vì họ ghét nước Anh, bỏ phiếu No cũng ít vì họ yêu nước Anh, mà bắt nguồn từ những bất đồng về chính trị và các vấn đề kinh tế liên quan (thuế má, dầu mỏ…). Cuộc bỏ phiếu diễn ra giữa người Anh, quản lí bởi người Anh, theo luật Anh và vì lợi ích của Anh. Đó chính là lí do nó diễn ra và kết thúc trong ôn hòa, không bị ảnh hưởng đáng kể bởi dòng chảy lịch sử và địa lý. 

Thúng rác ở Kiev có lẽ không may mắn bằng, khi nó phải cho ta xem những khẩu hiểu đầy mùi hận thù, nào là “đả đạo bọn bán nước”, “phản đối chính phủ bù nhìn phương Tây” hay “bọn Tân Phát Xít đáng chết”. Không như cuộc trưng cầu dân ý ở Anh có nguồn gốc đối nội, cuộc bảo loạn ở Ukraine là về đối ngoại: Ai Ukraine nên liên minh với, Nga hay phương Tây? Một câu hỏi như vậy không thể tránh khỏi sự can thiệp (intervention) từ các quốc gia bên ngoài, đặc biệt là Nga. Ukraine quan trọng với Nga như Texas đối với Mĩ: nếu như một nước Mĩ non trẻ không chấp nhận việc lính Mexico có mặt ở Texas và đe dọa an ninh Mĩ, thì Nga cũng không chấp nhận Ukraine đi theo phương Tây và tệ hơn là gia nhập NATO như Ba Lan, Hungary, Czech hay các quốc gia vùng Baltic. Nga nhìn cuộc cách mạng Cam (Orange Revolution) ở Ukraine năm 2004 với ánh mắt nghi ngờ, cho rằng đó là một âm mưu ngầm của Mĩ và phương Tây để lật đổ chính quyền thân Nga và thay bằng một chính quyền sẵn sàng ngả mình trước những yêu cầu của họ. Để rồi khi tổng thống Viktor Yanukovych phải tháo chạy khỏi Kiev, Nga coi đó là giọt nước tràn li, đưa quân vào chiếm Crimea, từ chối công nhận chính phủ mới ở Kiev và hỗ trợ cho những cánh quân phiến loạn ở miền Đông. Tất cả những sự kiện ở Ukraine trong thời gian qua đều bị chi phối bởi dòng chảy lịch sử và địa lý qua hàng thế kỉ, từ sự chia cắt về quan điểm giữa hai nửa Ukraine đến tính toán địa chính trị của Nga trước sự bao vậy (encirclement) của phương Tây. Bạo loạn, chiến tranh và đổ máu là khó thể tránh khỏi. 

Dù nhìn thấy nhiều điều khác nhau, thùng rác ở Glasgow và Kiev chắc hẳn đều thấy một điểm chung: vai trò của những người trẻ tuổi trong thời khắc lịch sử của đất nước. Những thanh niên Scotland 16, 17 tuổi, tràn đầy niềm tin và khát khao, không lùi bước trước những lời cảnh báo (dù đúng đến đâu), đã bỏ phiếu YES cho một quốc gia độc lập. Những thanh niên Ukraine, mơ một giấc mơ Châu Âu và bất mãn bởi chính quyền thối nát của Victor Yanukovich, đã xếp hàng vai kề vai ở quảng trường Độc Lập (Independece Square) kêu gọi một tương lai tươi sáng hơn cho dân tộc (theo ý họ). Cả hai đều đã thất bại, một bên không giành được độc lập, một bên bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Khác biệt có lẽ là ở Glasgow người trẻ đổ nước mắt khóc cho một giấc mơ không thành, còn ở Kiev họ đổ máu cho một giấc mơ đã thành ác mộng.

À còn một thứ thùng rác ở Kiev có mà thùng rác ở Glasgow không có, đó là chính trị gia 😀 

Geopolitical Diary: The German Question – Quá khứ chưa ngủ yên

Những viên đạn sinh ra để bị ghét. Dù trúng hay trượt mục tiêu, chúng sẽ luôn bị nguyền rủa, hoặc bởi kẻ đã bắn, hoặc bởi kẻ bị bắn. Hãy hỏi những tay anh tài đang yên nghỉ trong những ngôi mộ trắng ở Arlington hay giữa vùng rừng thiêng nước độc dãy Trường Sơn mà xem, xem liệu trong một khoảng khắc dường như bằng cả thế kỉ họ có ước rằng phát đạn họ bắn trúng mục tiêu, hay phát đạn bắn họ trượt trong gang tấc?

Mọi viên đạn đều bị ghét, nhưng có lẽ bị ghét nhất là viên đạn mà Gavrilo Princip người Serbia đã bắn để ám sát thái tử Franz Ferdinand của Đế Quốc Áo-Hung vào ngày 28/6/1914. Đúng một tháng sau, ngày 28/7/1914, hoàng đế Áo-Hung Franz Josef I tổng động viên quân đội xâm lược Serbia. Đó là một ngày thứ Ba. Ngày hôm sau, Belgrade, thủ đô Serbia, bị tàn phá. Thứ Năm, Nga, nước bảo hộ cho Serbia, tuyên chiến với Áo-Hung. Thứ Bảy, Đức, đồng minh Áo-Hung, tuyên chiến với Nga. Chủ Nhật, Đức xâm lược Luxembourg. Thứ Hai, Đức tuyên chiến với Pháp. Thứ Ba, Đức xâm lược Bỉ, nước được Anh bảo hộ, và Anh tuyên chiến với Đức ngay sau đó. Chỉ trong một tuần, Thế Chiến Thứ Nhất bắt đầu, đẩy những đế quốc hùng mạnh vào một cuộc chiến sinh tử nhằm thay đổi cán cân quyền lực ở Châu Âu. Để rồi sau bốn năm chiến tranh lục địa này trở nên hoang tàn với ba đế chế sụp đổ và một thế hệ tinh hoa vùi thây tại Verdun hay Sorme, dần dần đánh mất quyền lực vào tay Mĩ và Nhật Bản, những kẻ trước giờ chỉ đứng ngoài rìa.

(Thế nên tuần vừa rồi của bạn dù có tệ thế nào đi chăng nữa thì hãy vui lên đi, nó chẳng thể tệ bằng những thứ mà Châu Âu phải trải qua giờ này 100 năm trước đâu =)) )

Liệu ai có thể dự đoán trước được cuộc chiến tàn khốc này vào đầu thế kỉ 20? Rất khó. Thử tưởng tượng xem, năm 1900 bạn đang đứng giữa London hoa lệ, thủ đô thế giới. Lúc này Châu Âu đang ở giữa giai đoạn thái bình và thịnh vượng chưa từng thấy, với các cường quốc Anh, Pháp, Đức, Nga… thống trị Đông Bán Cầu bằng súng đạn, tàu thủy và xe lửa. Gần như không có một mảnh đất nào không bị cai trị trực tiếp hay gián tiếp bởi London, Paris, Berlin hay Moscow. Sự phụ thuộc lẫn nhau (inter-dependence) về kinh tế và tài chính giữa các cường quốc khiến chiến tranh dường như quá xa vời, hay kể cả có nổ ra đi chăng nữa thì cũng sẽ kết thúc trong vài tuần để bảo vệ nền kinh tế toàn cầu. Tương lai dường như đã được định trước: một Châu Âu hòa bình, thịnh vượng sẽ thống trị thế giới.

Và chiến tranh vẫn nổ ra, ở mức độ chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Không chỉ một, mà những hai…

Cả Thế Chiến Thứ Nhất và Thứ Hai đều xoay quanh cái gọi là “Câu-hỏi-nước-Đức” (The German Question), hay là sự trỗi dậy của đất nước này và vị trí của nó trong thế cân bằng quyền lực ở Châu Âu. Năm 1871, Otto Van Bismark thống nhất nước Phổ (Prussia) và rất nhiều thành bang khác thành một nước Đức thống nhất, một cường quốc mới nổi với kinh tế phát triển, công nghiệp hóa đạt tới trình độ cao và quân đội hùng mạnh. Trớ trêu thay, địa lý đã sắp đặt quốc gia này ở phía bắc của vùng Đồng Bằng Bắc Âu (Northen European Plain), một vùng đất trù phú bậc nhất nhưng thiếu những con sông hay dãy núi cần thiết cho việc phòng thủ, còn lịch sử lại đặt Đức nằm giữa hai đế quốc Nga và Pháp, cả hai đều lo sợ tiềm lực của Đức. Thật vậy, những dòng chảy vô hình của lịch sử và địa lý đã khiến cho sự ra đời của nước Đức thành điềm báo trước cho một châu Âu bất ổn.

Nỗi sợ hãi và nghi ngờ lẫn nhau đã đẩy Châu Âu vào chiến tranh. Nga và Pháp sau hàng thế kỉ thịnh vượng khi Đức bị phân chia giờ lo sợ một nước Đức mới, thống nhất và hùng mạnh. Chua lòng thay, Đức lại lo sợ chính những nỗi sợ đấy. Các nhà lãnh đạo Đức biết rằng đất nước của họ, đất nước tạo nên bởi hàng trăm năm chiến đấu và toan tính, sẽ thất thủ nếu Nga và Pháp tấn công cùng lúc, và họ cũng tin rằng một cuộc tấn công như vậy sớm muộn gì sẽ xảy ra. Đức sẽ không để cho hai nước trên bắt đầu chiến tranh vào thời gian/thời điểm họ muốn, và chính nỗi sợ ấy đã buộc Đức phải lên kế hoạch tấn công phủ đầu (preemption) Nga và Pháp cùng với đồng minh (Áo-Hung, Ottoman…), với hi vọng sẽ xóa bỏ được những mối đe dọa tiềm tàng.

Đó là cách Thế Chiến Thứ Nhất bắt đầu, nhưng kể cả khi cuộc chiến này kết thúc câu-hỏi-nước-Đức vẫn chưa tìm ra lời giải thích đáng. Và thế là Thế Chiến Thứ Hai tiếp tục tìm câu trả lời còn dang dở…

Kiệt sức bởi máu và chiến tranh, người Châu Âu bắt đầu tưởng tượng về một thế giới chỉ có các tranh chấp về kinh tế và về một chính phủ ở Brussel để giải quyết tranh chấp đấy. Liên Minh Châu Âu ra đời, và mở rộng sau khi Liên Xô sụp đổ, dường như là lời giải thích đáng cho câu-hỏi-nước-Đức: trói buộc nước Đức vào một quan hệ chặt chẽ với các nước châu Âu khác, những mong tình bằng hữu và gắn kết sẽ xoa dịu đi nghi ngờ và hận thù. Hai câu hỏi lớn, một là quyết đinh mối quan hệ của Châu Âu với một nước Nga đang hồi sinh, hai là quyết định vai trò mà Đức sẽ đảm nhiệm trong Liên Minh, đang chờ Châu Âu ở phía trước và sẽ quyết định tương lai của châu lục này.

100 năm sau, kí ức chiến tranh có thể phai tàn, nhưng những bài học lịch sử và địa lí vẫn còn nguyên vẹn. Viên đạn từ quá khứ vẫn còn đó, ẩn nấp đâu đây.

Hello world!

This is your very first post. Click the Edit link to modify or delete it, or start a new post. If you like, use this post to tell readers why you started this blog and what you plan to do with it.

Happy blogging!